Yêu cầu xây dựng phòng nuôi động vật thí nghiệm
Thời gian phát hành:
2025-12-30 10:52
Phòng động vật thí nghiệm là công trình được thiết kế phù hợp để nuôi dưỡng và nhân giống các loài động vật dùng trong nghiên cứu. So với các loại phòng thí nghiệm khác, phòng động vật thí nghiệm đòi hỏi mức độ ổn định, tiện nghi và độ tin cậy cao hơn nhằm bảo đảm chất lượng của động vật cũng như tính chính xác, đáng tin cậy của các nghiên cứu thực nghiệm.
Tiêu chuẩn kiểm soát vi sinh vật đối với động vật thí nghiệm có thể phân loại động vật thí nghiệm thành bốn cấp:
Cấp I – Động vật thông thường (CV) : Là chỉ các loài động vật thông thường mà vi sinh vật không bị kiểm soát đặc biệt. Yêu cầu loại trừ các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm chung giữa người và động vật, cũng như tác nhân gây bệnh của một số ít bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở động vật thí nghiệm;
Cấp II – Động vật sạch (CL) Yêu cầu loại trừ mầm bệnh gây các bệnh lây truyền giữa người và động vật cũng như các bệnh truyền nhiễm chủ yếu ở động vật;
Cấp III – Động vật không có mầm bệnh đặc hiệu (SPF) : Ngoài việc đạt cấp độ 2, còn phải loại trừ một số tác nhân gây bệnh được quy định;
Cấp 4 – Động vật vô trùng (GF) hoặc động vật sống trong môi trường vô trùng (GN) : Động vật vô trùng được yêu cầu không chứa bất kỳ vi sinh vật nào có thể phát hiện được bằng các phương pháp hiện có. Động vật định cư được yêu cầu cấy một hoặc nhiều loại vi sinh vật đã biết vào cơ thể của động vật vô trùng.

Phòng động vật thí nghiệm thường bao gồm các phòng nuôi dưỡng, phòng theo dõi sức khỏe, phòng cách ly – kiểm dịch, các phòng thí nghiệm chuyên dụng (phẫu thuật, xử lý và giải phẫu thí nghiệm, quản lý hậu phẫu, chẩn đoán bệnh, điều trị, xét nghiệm sinh lý – sinh hóa, kiểm dịch vi sinh, phân tích dinh dưỡng thức ăn và phòng pha chế thức ăn đặc biệt), cùng với phòng kho, phòng chuẩn bị vệ sinh, phòng rửa – khử trùng, các khu dành cho nhân viên (bao gồm văn phòng, phòng tắm, phòng thay đồ, v.v.), hành lang (khu sạch và khu ô nhiễm), cơ sở xử lý chất thải, phòng máy và trạm biến áp, v.v. Việc bố trí phòng động vật thí nghiệm cần bảo đảm lộ trình di chuyển của con người, động vật và vật phẩm hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác. Cần phân định rõ ràng giữa khu vực rào chắn và khu vực ngăn cách; đối với cả hai khu vực này phải xây dựng các quy trình tiệt trùng, khử khuẩn và bảo vệ riêng biệt nhằm bảo đảm sức khỏe cho con người và động vật, đồng thời đảm bảo tính chính xác của các thí nghiệm.
Vật liệu xây dựng và lớp sơn phủ bề mặt của không gian bên trong phòng nuôi động vật thí nghiệm thường phải đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn xây dựng cấp 2 về độ an toàn sinh học. Vật liệu xây dựng dùng cho các bức tường nội thất chính cần vừa đáp ứng đầy đủ các nhu cầu khác nhau của động vật, vừa bảo đảm yêu cầu vệ sinh, sạch sẽ. Vật liệu tường nội thất phải nhẵn mịn, bền vững, chống ăn mòn, chống cháy, chống ẩm, đồng thời không dễ bị vỡ, nứt hoặc rỉ sét. Nền nhà phải phẳng, không trơn trượt, không thấm nước, không rò rỉ, đồng thời chịu được sự ăn mòn của các dung dịch hóa chất và có khả năng chống mài mòn.
Phòng động vật thí nghiệm thường bao gồm các phòng nuôi dưỡng, phòng theo dõi sức khỏe, phòng cách ly – kiểm dịch, các phòng thí nghiệm chuyên dụng (phẫu thuật, xử lý và giải phẫu thí nghiệm, quản lý hậu phẫu, chẩn đoán bệnh, điều trị, xét nghiệm sinh lý – sinh hóa, kiểm dịch vi sinh, phân tích dinh dưỡng thức ăn và phòng pha chế thức ăn đặc biệt), cùng với phòng kho, phòng chuẩn bị vệ sinh, phòng rửa – khử trùng, các khu dành cho nhân viên (bao gồm văn phòng, phòng tắm, phòng thay đồ, v.v.), hành lang (khu sạch và khu ô nhiễm), cơ sở xử lý chất thải, phòng máy và trạm biến áp, v.v. Việc bố trí phòng động vật thí nghiệm cần bảo đảm lộ trình di chuyển của con người, động vật và vật phẩm hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác. Cần phân định rõ ràng giữa khu vực rào chắn và khu vực ngăn cách; đối với cả hai khu vực này phải xây dựng các quy trình tiệt trùng, khử khuẩn và bảo vệ riêng biệt nhằm bảo đảm sức khỏe cho con người và động vật, đồng thời đảm bảo tính chính xác của các thí nghiệm. 
Vật liệu xây dựng và lớp sơn phủ bề mặt trong không gian nội bộ của phòng nuôi động vật thường phải đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn xây dựng cấp 2 về độ an toàn sinh học. Vật liệu xây dựng dùng cho các bức tường nội thất chính cần vừa đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của động vật, vừa bảo đảm yêu cầu vệ sinh, sạch sẽ. Vật liệu tường nội thất phải nhẵn mịn, bền vững, chống ăn mòn, chống cháy, chống ẩm, đồng thời không dễ bị vỡ, nứt hoặc rỉ sét. Nền sàn phải phẳng, không trơn trượt, không thấm nước, không rò rỉ, chịu được ăn mòn bởi dung dịch hóa chất và chống mài mòn. Đối với những phòng có yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường, cần cân nhắc lựa chọn các vật liệu phát bụi thấp. Góc nối giữa tường và sàn phải bo tròn, không góc cạnh. Các góc giữa tường với tường, giữa tường với trần hoặc dầm cũng phải bo tròn, không góc cạnh. Trần nhà thường không chịu lực; nên sử dụng tấm xi măng mỏng được phủ lớp chống thấm, có khả năng chịu được tác động của nước và sự ăn mòn bởi nước khử trùng. Phòng nuôi thường không bố trí cửa sổ bên ngoài, đồng thời giữa các phòng nuôi cũng không lắp đặt cửa sổ thông giữa nhằm tránh gây nhiễu. Cửa ra vào của phòng nuôi nên dùng loại cửa kín khít bằng hợp kim nhôm; hướng mở cửa cần chú ý đến chênh lệch áp suất giữa bên trong và bên ngoài. Đối với cửa ngăn cách giữa khu vực có rào chắn và khu vực không có rào chắn, cần lắp đặt thiết bị khóa chỉ mở được khi đáp ứng các điều kiện nhất định.

Trong các phòng thí nghiệm động vật, phương pháp thiết lập khu vực áp suất được áp dụng để kiểm soát đường đi của các chất ô nhiễm trong không khí và các tác nhân gây dị ứng. Thông thường, khu vực ngăn cách được duy trì ở áp suất dương, còn khu vực rào chắn được duy trì ở áp suất âm tương đối. Đối với từng loại công trình khác nhau, chênh lệch áp suất giữa phòng nuôi động vật và hành lang có thể thay đổi; trong đa số trường hợp, dải áp suất được sử dụng nằm trong khoảng 0,03 đến 0,075 inch cột nước, đồng thời hệ thống sẽ phát cảnh báo khi chênh lệch áp suất xuống quá thấp.
Về phương diện kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm tương đối, phòng nuôi động vật thí nghiệm cũng cần một hệ thống điều hòa không khí ổn định nhằm duy trì các thông số môi trường ở mức đúng chuẩn; trong đó, yêu cầu về nhiệt độ đóng vai trò then chốt, phải được kiểm soát trong phạm vi ±1℃ so với giá trị cài đặt, với dải nhiệt độ từ 16 đến 29℃. Hệ thống điều hòa không khí phải vận hành liên tục suốt cả năm; nếu không sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, do đó nhất thiết phải bố trí các cụm máy điều hòa dự phòng. Trong đa số trường hợp, mục tiêu kiểm soát độ ẩm tương đối nằm trong khoảng 30%–70%, với giá trị cài đặt dao động từ 50% đến 55%. Đối với một số phòng không thuộc nhóm chính, có thể sử dụng hệ thống điều hòa đa phòng, coi như một khu vực riêng biệt để kiểm soát, qua đó tiết kiệm chi phí.
Khuyến nghị Tin tức